CPTPP và RCEP đều là hiệp định thương mại tự do nhiều bên mà Việt Nam tham gia, nhưng khác nhau ở thành viên, độ sâu cam kết và quy tắc xuất xứ. CPTPP có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019, mở ra thị trường chưa từng có FTA với Việt Nam như Canada, Mexico, Peru, với quy tắc xuất xứ chặt (dệt may theo nguyên tắc "từ sợi trở đi"). RCEP có hiệu lực từ ngày 1/1/2022, gồm 10 nước ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, với một bộ quy tắc xuất xứ chung và cơ chế cộng gộp nguyên liệu trong cả 15 nước.
Khi nước nhập là thành viên của cả hai, như Nhật Bản, Úc, Malaysia, bạn và người mua phải chọn. Không có hiệp định nào "tốt hơn" cho mọi mặt hàng; lựa chọn đúng phụ thuộc vào thuế suất của mã hàng theo từng hiệp định và khả năng hàng đạt quy tắc xuất xứ. Bài này so sánh hai hiệp định ở những điểm người xuất khẩu cần, rồi đưa cách chọn từng bước.
So sánh nhanh CPTPP và RCEP ở góc người xuất khẩu
Bảng dưới chỉ gom những điểm liên quan trực tiếp tới việc bán hàng, ở mức nguyên lý:
| Tiêu chí | CPTPP | RCEP |
|---|---|---|
| Hiệu lực với Việt Nam | 14/1/2019 | 1/1/2022 |
| Thành viên | Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam; Vương quốc Anh gia nhập sau | 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand |
| Thị trường mới với Việt Nam | Canada, Mexico, Peru chưa từng có FTA trước đó | Các nước đều đã có FTA với Việt Nam qua ASEAN hoặc song phương; cái mới là bộ quy tắc chung |
| Quy tắc xuất xứ | Chi tiết theo từng mặt hàng, dệt may chặt theo nguyên tắc từ sợi trở đi, có danh mục nguồn cung thiếu hụt | Quy tắc chung nhiều mặt hàng là hàm lượng giá trị khu vực 40% hoặc chuyển đổi nhóm, dễ áp dụng hơn |
| Cộng gộp | Trong các nước CPTPP | Trong cả 15 nước RCEP, gồm cả Trung Quốc |
| Chứng từ xuất xứ | Chủ yếu tự chứng nhận | C/O mẫu RCEP và tự chứng nhận theo điều kiện, lộ trình |
| Cam kết ngoài thuế | Sâu: lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, thương mại điện tử | Hẹp hơn, tập trung vào hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, thuận lợi hoá |
Danh sách thành viên có thể thay đổi khi có nước gia nhập; trạng thái hiệu lực giữa từng cặp nước cũng phụ thuộc việc phê chuẩn. Kiểm tra thông tin hiện hành trước khi dựa vào hiệp định cho một thị trường cụ thể.
Quy tắc xuất xứ: chỗ hai hiệp định khác nhau nhiều nhất
Khác biệt dễ thấy nhất nằm ở dệt may. CPTPP đòi chuỗi sản xuất từ sợi: sợi phải có xuất xứ trong khối, rồi dệt vải, cắt may ở nước thành viên. Một xưởng may dùng vải nhập từ nước ngoài khối gần như không thể đạt xuất xứ CPTPP cho phần lớn mã hàng, trừ khi vải thuộc danh mục nguồn cung thiếu hụt mà hiệp định cho phép. RCEP với nhiều mã dệt may chấp nhận chuyển đổi chương hoặc nhóm, kết hợp với cộng gộp rộng, nên vải nhập từ Trung Quốc hay Hàn Quốc vẫn có thể giúp hàng đạt xuất xứ.
Với nhiều mặt hàng khác, quy tắc của RCEP dễ đoán hơn nhờ khung chung: hàm lượng giá trị khu vực 40% hoặc chuyển đổi nhóm bốn số, kèm các quy tắc riêng cho một số mặt hàng. CPTPP có nhiều phương pháp tính giá trị và quy tắc riêng chi tiết hơn, đòi người xuất khẩu đọc kỹ hơn.
Hệ quả thực tế: cùng một sản phẩm, có thể đạt xuất xứ RCEP mà không đạt CPTPP, hoặc ngược lại tuỳ cấu trúc nguyên liệu. Đó là lý do không nên quyết định chọn hiệp định chỉ dựa vào thuế suất.
Cộng gộp của RCEP: vì sao chuỗi cung ứng dùng nguyên liệu Trung Quốc quan tâm
Rất nhiều xưởng Việt Nam dùng nguyên liệu, phụ liệu nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Theo các hiệp định ASEAN cộng một (ví dụ ASEAN – Nhật Bản), nguyên liệu từ Trung Quốc là nguyên liệu không có xuất xứ khi làm hàng đi Nhật. Trong RCEP, nguyên liệu có xuất xứ RCEP từ bất kỳ nước thành viên nào, kể cả Trung Quốc, được cộng gộp như nguyên liệu khu vực.
Điều này có thể biến một mặt hàng đang không đạt thành đạt, nhất là hàng có tỷ lệ nguyên liệu nhập cao. Nhưng điều kiện là nguyên liệu đó phải có xuất xứ RCEP và có chứng từ chứng minh, không phải cứ mua từ nước thành viên là đủ. Nguyên liệu Trung Quốc mà bản thân nó lại được làm từ đầu vào ngoài khối và chưa đạt quy tắc thì không được tính.
Biểu cam kết thuế của RCEP cũng có điểm cần chú ý: một số thành viên dành mức cam kết khác nhau cho từng đối tác, nên thuế ưu đãi của cùng một mã hàng có thể phụ thuộc vào nước xuất xứ được xác định theo quy tắc riêng của hiệp định. Đây là phần kỹ thuật, khi gặp mặt hàng nằm trong diện này nên hỏi cơ quan quản lý xuất xứ hoặc chuyên gia trước khi cam kết với người mua.
Thị trường mới của CPTPP: Canada, Mexico, Peru
Trước CPTPP, Việt Nam chưa có FTA với Canada, Mexico và Peru. Với ba thị trường này, CPTPP là con đường ưu đãi thuế duy nhất hiện nay, nên câu hỏi "chọn hiệp định nào" không đặt ra; câu hỏi là hàng có đạt quy tắc CPTPP không.
Canada là thị trường hay được doanh nghiệp nhỏ quan tâm vì có cộng đồng người Việt và người châu Á đông, nhu cầu với thực phẩm châu Á, đồ gia dụng, hàng thủ công. Mexico và Peru xa về địa lý, nhà nhập khẩu thường mua qua trung gian, chi phí logistics và thời gian vận chuyển là biến số lớn. Ưu đãi thuế không bù được nếu chi phí đưa hàng tới quá cao so với giá trị lô.
Mỗi thị trường cũng có quy định kỹ thuật, an toàn thực phẩm, nhãn mác riêng (Canada yêu cầu nhãn song ngữ Anh – Pháp với nhiều nhóm hàng tiêu dùng, theo quy định của nước này). CPTPP không xoá những yêu cầu đó. Nghiên cứu yêu cầu của nước nhập trước khi tính tới ưu đãi thuế.
Một điểm thực tế nữa: vì CPTPP dựa chủ yếu vào tự chứng nhận, người mua ở ba thị trường này thường mong nhà cung cấp tự lập được lời khai xuất xứ và trả lời được câu hỏi xác minh. Nếu bạn chưa từng làm, hãy chuẩn bị hồ sơ xuất xứ của mã hàng thật kỹ trước khi chào hàng, và hỏi người mua họ cần lời khai theo mẫu nào, ai lập, lập trên chứng từ nào. Câu trả lời rõ ràng ngay từ đầu giúp người mua mới tin rằng lô hàng sẽ không vướng ở cảng đến.
Cam kết ngoài thuế của CPTPP chạm tới doanh nghiệp nhỏ ở đâu
CPTPP thường được gọi là hiệp định "tiêu chuẩn cao" vì có các chương về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước. Những chương này là cam kết giữa các nhà nước, không đặt nghĩa vụ trực tiếp lên một xưởng nhỏ. Nhưng chúng có tác động lan toả qua người mua.
Nhà nhập khẩu ở Canada, Úc, Nhật Bản thường có bộ quy tắc ứng xử nhà cung cấp, hỏi về lao động trẻ em, giờ làm, an toàn lao động, xử lý chất thải. Khi hai nước đã cam kết về lao động và môi trường trong hiệp định, các câu hỏi này càng được đặt ra thường xuyên hơn, đôi khi kèm yêu cầu đánh giá nhà máy.
Phần sở hữu trí tuệ cũng đáng chú ý: nếu bạn có nhãn hiệu riêng và định bán tại các nước CPTPP, hãy kiểm tra việc bảo hộ nhãn hiệu ở nước đó trước khi hàng lên kệ. Với doanh nghiệp nhỏ, cách thực tế là chuẩn bị sẵn một bộ hồ sơ ngắn về điều kiện làm việc, nguồn nguyên liệu và quyền với nhãn hiệu, để trả lời nhanh khi người mua hỏi.
Khi nước nhập là thành viên của cả hai: chọn thế nào
Áp dụng cho Nhật Bản, Úc, New Zealand, Singapore, Malaysia, Brunei và các nước khác có mặt trong cả hai hiệp định. Đừng quên còn có thể có hiệp định thứ ba, thứ tư như AJCEP, VJEPA, AANZFTA:
- Thống nhất mã HS sáu số với người mua.
- Tra thuế ưu đãi của mã đó theo CPTPP, RCEP và mọi hiệp định khác còn áp dụng với nước nhập, cho đúng năm giao hàng.
- Loại bỏ các hiệp định có thuế không tốt hơn thuế thông thường.
- Với các hiệp định còn lại, kiểm tra quy tắc cụ thể mặt hàng và bảng nguyên liệu: đạt hay không, đạt theo tiêu chí nào, có cần cộng gộp không.
- So mức độ chắc chắn: đạt cách xa ngưỡng tốt hơn đạt sát ngưỡng, hồ sơ dễ chứng minh tốt hơn hồ sơ phụ thuộc nhiều bản khai của bên thứ ba.
- Cân nhắc hình thức chứng từ: tự chứng nhận hay C/O do cơ quan cấp, cái nào hợp với năng lực hồ sơ của bạn.
- Chốt với người mua bằng văn bản, ghi rõ hiệp định và loại chứng từ.
Ghi kết quả vào bảng theo mã hàng và thị trường. Lộ trình thuế của các hiệp định khác nhau, nên lựa chọn tốt nhất năm nay có thể đổi vào năm sau.
Ví dụ giả định: một xưởng túi xách đi Nhật Bản
Bối cảnh. Xưởng may túi vải dùng vải nhập từ Trung Quốc, quai và khoá mua trong nước không rõ xuất xứ. Người mua ở Nhật hỏi có ưu đãi thuế không. Mọi chi tiết là ví dụ giả định.
Xét CPTPP. Nếu quy tắc mặt hàng đòi vải có xuất xứ trong khối, vải Trung Quốc làm hàng không đạt. CPTPP bị loại, dù thuế có thể tốt.
Xét các hiệp định ASEAN – Nhật Bản và Việt Nam – Nhật Bản. Vải Trung Quốc là nguyên liệu không có xuất xứ. Kết quả phụ thuộc quy tắc mặt hàng có chấp nhận chuyển đổi chương từ vải sang túi hoặc hàm lượng giá trị không; phải tra cụ thể.
Xét RCEP. Nếu vải có xuất xứ RCEP và có chứng từ, nó được cộng gộp như nguyên liệu khu vực; kết hợp quy tắc chung của RCEP, hàng có khả năng đạt. Cần xin nhà cung cấp vải chứng từ xuất xứ phù hợp.
So thuế và chốt. Giữa các hiệp định mà hàng đạt, chọn cái cho người mua thuế tốt nhất năm giao hàng và hồ sơ chắc nhất, rồi thống nhất bằng văn bản.
Câu hỏi thường gặp
Hàng đi Nhật nên dùng CPTPP hay RCEP?
Không có câu trả lời chung. Tra thuế ưu đãi của mã hàng theo cả hai, cùng AJCEP và VJEPA, rồi xem hàng đạt quy tắc xuất xứ của hiệp định nào. Chọn hiệp định vừa có thuế tốt vừa chắc đạt xuất xứ, và thống nhất với người mua.
Vì sao dệt may khó tận dụng CPTPP?
Vì quy tắc xuất xứ dệt may của CPTPP thường đòi sợi và vải có xuất xứ trong khối, trong khi nhiều xưởng may Việt Nam dùng vải nhập từ nước ngoài khối. Danh mục nguồn cung thiếu hụt cho phép một số ngoại lệ, phải tra cụ thể.
RCEP có làm hàng Trung Quốc dễ "đội lốt" hàng Việt không?
Không. Cộng gộp chỉ áp cho nguyên liệu có xuất xứ RCEP được dùng trong sản xuất thật ở Việt Nam; hàng chỉ đóng gói lại, dán nhãn vẫn không đạt xuất xứ. Gian lận xuất xứ vẫn bị xác minh và xử lý.
Có thể dùng CPTPP để xuất sang Anh không?
Anh đã gia nhập CPTPP, nên với các mặt hàng mà hiệp định có hiệu lực giữa Việt Nam và Anh, đây là một lựa chọn bên cạnh UKVFTA. Hãy so thuế và quy tắc xuất xứ của hai hiệp định cho đúng mã hàng trước khi chọn.
Doanh nghiệp nhỏ có nên tìm hiểu cả hai hiệp định không?
Chỉ cần tìm hiểu hiệp định liên quan tới thị trường và mặt hàng mình đang bán. Bắt đầu từ một mã hàng, một nước nhập, tra thuế và quy tắc theo các hiệp định áp dụng, rồi mở rộng dần khi có thị trường mới.
RCEP có thay thế các hiệp định ASEAN cộng một không?
Không. Các hiệp định cũ vẫn có hiệu lực song song. Người xuất khẩu và người nhập khẩu được chọn hiệp định có lợi nhất mà hàng đáp ứng quy tắc xuất xứ, nên một nước có thể có ba bốn lựa chọn cùng lúc.