Vietnamgoods.comHàng Việt Ra Thế Giới
Hợp đồng và thanh toán quốc tế

FOB và CIF khác nhau thế nào: chi phí, rủi ro và khi nào người bán nên chọn

FOB và CIF chuyển rủi ro ở cùng một chỗ: lúc hàng lên tàu ở cảng đi. Khác nhau ở cước, bảo hiểm và ai nắm chặng biển. Bảng so sánh và cách đổi giá.

Low angle from the quay as a crane lifts a container onto a cargo ship deck in Ho Chi Minh City port, a dock worker in hard hat seen from behind, golden afternoon light

FOB và CIF khác nhau ở chỗ ai trả cước biển và ai mua bảo hiểm cho chặng biển, còn điểm rủi ro chuyển sang người mua thì giống nhau: lúc hàng đã ở trên tàu tại cảng đi. Bán FOB, bạn giao hàng lên con tàu do người mua chỉ định và hết phần mình. Bán CIF, bạn thuê tàu, trả cước tới cảng đến và mua bảo hiểm cho người mua hưởng, nhưng nếu hàng hỏng giữa biển thì người mua vẫn là bên chịu rủi ro và đi đòi bảo hiểm.

Hiểu đúng một điểm đó giúp bạn tránh hai sai lầm hay gặp: tưởng bán CIF thì phải lo tới khi hàng cập cảng, hoặc tưởng bán FOB là bị thiệt vì “nhường vận tải cho nước ngoài”. Phần dưới so từng khoản chi phí, chỉ ra khi nào nên bán theo điều kiện nào và cách đổi một giá FOB thành giá CIF với ví dụ giả định.

Điểm giống nhau dễ bị quên: rủi ro chuyển cùng một chỗ

Theo Incoterms 2020, cả FOB và CIF đều thuộc nhóm điều kiện chỉ dùng cho vận tải đường biển và đường thuỷ nội địa. Với cả hai, người bán làm thủ tục xuất khẩu, đưa hàng lên tàu tại cảng đi, và rủi ro mất mát hay hư hỏng chuyển sang người mua khi hàng đã ở trên tàu. Từ thời điểm đó, nếu tàu gặp bão, container bị rơi hay hàng bị ẩm, người bán không còn chịu rủi ro, dù trong trường hợp CIF người bán đã trả cước cho chặng đó.

Cái khác nằm ở chi phí và quyền điều hành chặng biển. Với FOB, người mua thuê tàu, trả cước và chỉ định tên tàu, ngày tàu chạy cho người bán. Với CIF, người bán chọn hãng tàu, đặt chỗ, trả cước tới cảng đến và mua bảo hiểm. Chính vì vậy, CIF được xếp vào nhóm điều kiện có hai điểm tới hạn: điểm chuyển rủi ro ở cảng đi, còn điểm chuyển chi phí ở cảng đến.

Bên cạnh hai điều kiện này còn có CFR, giống CIF nhưng không có bảo hiểm. Người mua đã có hợp đồng bảo hiểm bao năm cho mọi lô hàng nhập thường chọn CFR để không trả hai lần. Khi báo giá, nhiều người bán đưa song song giá FOB và CFR hoặc CIF để khách chọn, cách này tiện cho cả hai bên và cho thấy bạn hiểu nghề.

So từng khoản chi phí giữa FOB và CIF

Bảng dưới liệt kê các nhóm chi phí của một lô hàng đi đường biển và bên trả theo mỗi điều kiện. Tên các khoản phụ phí thực tế ở mỗi hãng tàu một khác, bạn nên đòi forwarder bóc từng dòng để biết dòng nào thuộc đầu xuất, dòng nào thuộc đầu nhập.

Khoản chi phíFOBCIF
Đóng gói, ký mã hiệu thùngNgười bánNgười bán
Vận chuyển nội địa từ xưởng ra cảng điNgười bánNgười bán
Thủ tục hải quan xuất khẩu, giấy phép xuất khẩu nếu cóNgười bánNgười bán
Phí xếp hàng lên tàu ở cảng điNgười bán (tới khi hàng lên tàu)Người bán
Cước biển chặng chínhNgười muaNgười bán
Bảo hiểm hàng hoá chặng biểnNgười mua tự quyết có mua hay khôngNgười bán mua, người mua hưởng
Phí dỡ hàng ở cảng đếnNgười muaTuỳ hợp đồng vận tải; nếu đã nằm trong cước thì người bán đã trả
Thủ tục, thuế nhập khẩu ở nước đếnNgười muaNgười mua

Dòng phí dỡ hàng ở cảng đến là chỗ hay sinh tranh cãi. Theo CIF, nếu hợp đồng vận tải người bán ký đã gồm phí dỡ thì người bán không đòi lại người mua được; nếu chưa gồm thì người mua trả. Hỏi forwarder cước báo cho bạn đã gồm những gì ở đầu đến là cách tránh bất ngờ.

Bảo hiểm trong CIF: mức tối thiểu và vì sao người mua hay đòi thêm

Incoterms 2020 yêu cầu người bán theo CIF mua bảo hiểm ở mức tối thiểu, tương ứng điều kiện C trong bộ điều khoản bảo hiểm hàng hoá của Viện các nhà bảo hiểm London hoặc điều kiện tương đương, với số tiền bảo hiểm tối thiểu bằng giá hợp đồng cộng mười phần trăm, tức 110% giá CIF. Mức C chỉ che các rủi ro lớn như tàu đắm, mắc cạn, cháy nổ, va chạm, ném hàng xuống biển, và không che các tổn thất như mất cắp, ướt do nước mưa hay vỡ do xếp dỡ.

Vì vậy người mua hàng dễ hỏng, hàng giá trị cao hoặc hàng dễ bị mất cắp thường yêu cầu nâng lên mức A, mức che mọi rủi ro trừ các loại bị loại trừ. Đây là thoả thuận được phép, nhưng phải ghi rõ trong hợp đồng, kèm chuyện ai trả phần phí chênh lệch. Nếu thanh toán bằng thư tín dụng, điều khoản bảo hiểm trong thư tín dụng phải khớp với hợp đồng, nếu không chứng từ bảo hiểm của bạn sẽ bị coi là bất hợp lệ.

Một điểm thực tế: chứng từ bảo hiểm phải được cấp trước hoặc cùng ngày giao hàng lên tàu, và ghi đúng loại tiền của hợp đồng. Người bán mới hay mua bảo hiểm muộn sau khi tàu đã chạy, chứng từ khi đó có ngày sau ngày vận đơn và có thể bị ngân hàng từ chối nếu thanh toán bằng thư tín dụng.

Khi nào bán FOB có lợi cho người bán nhỏ

FOB, và tốt hơn nữa là FCA với hàng container, hợp với người bán trong các hoàn cảnh sau:

  • Người mua là nhà nhập khẩu lớn, có hợp đồng cước dài hạn với hãng tàu hoặc có forwarder quen ở Việt Nam. Họ gần như luôn lấy được giá cước tốt hơn bạn, và bạn khó cạnh tranh ở khâu này.
  • Bạn chưa có kinh nghiệm đặt chỗ tàu, chưa quen làm việc với forwarder, và muốn tập trung vào sản xuất và thủ tục xuất khẩu.
  • Cước biển đang biến động mạnh. Bán CIF với giá cố định trong khi cước có thể tăng gấp nhiều lần giữa lúc chốt giá và lúc đặt chỗ là kiểu rủi ro đã làm nhiều người bán mất lãi cả lô.
  • Bạn không muốn ôm thêm nghĩa vụ chứng từ bảo hiểm và vận đơn cước trả trước, những thứ có thể làm bộ chứng từ phức tạp hơn khi thanh toán bằng thư tín dụng.

Điểm cần lưu ý khi bán FOB là bạn phụ thuộc vào tàu người mua chỉ định. Nếu tàu tới trễ hoặc người mua không thông báo tàu đúng hạn, hợp đồng nên ghi rõ chi phí lưu kho, lưu bãi phát sinh do ai chịu. Incoterms 2020 có nguyên tắc chung cho trường hợp này, nhưng ghi thẳng vào hợp đồng vẫn rõ ràng hơn.

Khi nào bán CIF hoặc CFR có lợi

Ngược lại, có những lúc nắm chặng biển là lợi thế của người bán:

  • Người mua nhỏ, mới nhập lần đầu, không có kênh vận chuyển và muốn một giá về tới cảng của họ để dễ tính giá vốn. Báo được giá CIF giúp bạn lọt vào danh sách của những người mua này.
  • Bạn đã có forwarder ổn định, lấy được giá cước cạnh tranh và chủ động được lịch tàu, giúp giao hàng đúng hạn mà không phải chờ người mua chỉ định tàu.
  • Bạn muốn giữ vận đơn trong tay, chủ động ngày giao và ngày xuất trình chứng từ, điều có ích khi thanh toán bằng nhờ thu hoặc thư tín dụng.
  • Bạn bán đều đặn cho cùng một thị trường, gom được nhiều lô để đàm phán cước, biến khâu vận chuyển thành một phần biên lãi nhỏ thay vì chỉ là chi phí.

Muốn bán CIF an toàn, báo giá phải ghi rõ thời hạn hiệu lực ngắn và có điều khoản điều chỉnh khi cước biển thay đổi quá một mức đã thoả thuận. Nếu khách không chịu điều khoản điều chỉnh, ít nhất hãy rút ngắn hiệu lực báo giá.

Những va chạm hay gặp khi bán theo FOB và CIF

Tàu người mua chỉ định tới trễ (FOB). Hàng đã đóng xong, container đã hạ bãi, nhưng tàu lùi lịch một tuần. Phí lưu container và lưu bãi phát sinh từng ngày. Nếu hợp đồng không ghi ai chịu khi người mua chỉ định tàu không đúng hạn, hai bên sẽ đẩy qua đẩy lại. Ghi một dòng rằng chi phí phát sinh do tàu trễ hoặc người mua chậm thông báo tàu thuộc về người mua là đủ để khỏi cãi nhau.

Người mua đòi giao gấp trong khi chưa báo tàu (FOB). Có người mua thúc người bán “cứ đóng hàng đi” rồi mới đặt chỗ. Bạn không nên tự đặt chỗ thay người mua theo FOB nếu chưa thoả thuận bằng văn bản ai trả cước và vận đơn ghi cước trả sau hay trả trước.

Phụ phí đầu đến bất ngờ (CIF). Người mua nhận hàng và bị hãng tàu ở cảng đến đòi một loạt phụ phí, rồi quay lại trách người bán “đã nói giá CIF trọn gói”. Báo giá CIF nên ghi rõ không gồm các khoản ở cảng đến, trừ khi bạn đã hỏi forwarder và chủ động gồm vào.

Hàng tới hỏng, người mua giữ tiền (cả hai). Rủi ro đã chuyển khi hàng lên tàu, nhưng người mua vẫn có thể từ chối trả nếu cho rằng hàng hỏng do đóng gói không đạt hoặc hàng đã có lỗi từ trước. Ảnh chụp hàng lúc đóng container, biên bản kiểm hàng trước khi giao và số niêm phong container là bằng chứng để bạn chứng minh hàng rời tay mình còn tốt.

Ví dụ giả định: đổi giá FOB sang giá CIF

Mọi con số dưới đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải giá cước hay phí bảo hiểm thật. Giả sử bạn bán một container hàng thủ công mỹ nghệ, đã có giá FOB và muốn báo thêm giá CIF.

  1. Lấy giá FOB của cả lô, giả định là 20.000 đô la Mỹ.
  2. Hỏi forwarder cước biển tới cảng đến, giả định là 2.000 đô la Mỹ cho container đó, đã gồm các phụ phí đầu đi mà hãng tàu tính vào cước. Cộng lại được giá CFR là 22.000 đô la Mỹ.
  3. Hỏi công ty bảo hiểm tỷ lệ phí cho mức bảo hiểm khách yêu cầu, giả định là 0,2% trên số tiền bảo hiểm.
  4. Vì số tiền bảo hiểm tính trên 110% giá CIF, mà giá CIF lại chứa phí bảo hiểm, nên dùng công thức: CIF = CFR chia cho (1 trừ 1,1 nhân tỷ lệ phí). Với số giả định, CIF = 22.000 / (1 − 0,0022), xấp xỉ 22.048,5 đô la Mỹ.
  5. Phí bảo hiểm trong ví dụ xấp xỉ 48,5 đô la Mỹ, tức 0,2% của 110% giá CIF. Làm tròn giá báo lên một mức chẵn và cộng phần dự phòng nếu bạn muốn che biến động cước.

Công thức trên là cách tính chuẩn trong nghiệp vụ ngoại thương, nhưng trong báo giá nhỏ, nhiều người bán tính gần đúng bằng cách lấy phí bảo hiểm theo 110% giá CFR. Sai số nhỏ, nhưng với lô lớn bạn nên tính đúng để khỏi lệch giữa hoá đơn và chứng từ bảo hiểm.

Câu hỏi thường gặp

Bán FOB có thiệt cho doanh nghiệp Việt Nam không?

Không có chuyện thiệt hay lợi tuyệt đối. Bán FOB nghĩa là bạn không thu thêm phần biên từ vận tải và bảo hiểm, nhưng cũng không gánh rủi ro cước biến động. Doanh nghiệp nhỏ chưa có kênh vận chuyển tốt thường an toàn hơn với FOB hoặc FCA ở giai đoạn đầu.

Giá CIF có bao gồm thuế nhập khẩu ở nước người mua không?

Không. CIF chỉ gồm giá hàng, cước biển tới cảng đến và phí bảo hiểm. Thuế nhập khẩu, thủ tục hải quan và các khoản ở nước đến thuộc người mua. Nếu khách muốn giá đã gồm thuế, đó là điều kiện DDP, rủi ro và việc phải làm khác hẳn.

Hàng đi đường hàng không có dùng FOB, CIF được không?

Theo Incoterms 2020, FOB và CIF chỉ dành cho đường biển và đường thuỷ nội địa. Hàng đi máy bay nên dùng FCA, CPT hoặc CIP. Thực tế vẫn có người ghi “FOB sân bay”, nhưng cách ghi đó không khớp định nghĩa của ICC và dễ gây hiểu lầm về điểm chuyển rủi ro.

Khi bán CIF, ai đứng tên người được bảo hiểm?

Người bán mua bảo hiểm nhưng người mua là người được hưởng quyền đòi bồi thường khi có tổn thất sau khi hàng lên tàu. Thông thường chứng từ bảo hiểm được ký hậu chuyển nhượng để người mua hoặc ngân hàng của họ cầm và đòi bồi thường. Cách ghi cụ thể nên hỏi công ty bảo hiểm.

Có nên báo cả giá FOB và giá CIF trong một báo giá không?

Nên, nếu bạn lấy được cước đáng tin. Hai giá song song giúp người mua so với nhà cung cấp khác và tự chọn. Hãy ghi rõ hiệu lực của giá CIF ngắn hơn giá FOB, vì cước biển thay đổi nhanh hơn giá hàng.

Cước biển tăng sau khi đã ký hợp đồng CIF thì xử lý thế nào?

Nếu hợp đồng không có điều khoản điều chỉnh, người bán thường phải tự gánh phần tăng. Có thể thương lượng với người mua để chia phần chênh lệch, nhưng họ không có nghĩa vụ đồng ý. Bài học là đưa điều khoản điều chỉnh cước hoặc giới hạn hiệu lực giá vào từ đầu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.