Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là loại bảo hiểm bồi thường cho người bán một phần khoản tiền hàng không thu được khi người mua nước ngoài mất khả năng thanh toán, kéo dài không trả, hoặc khi sự kiện ở nước người mua như cấm chuyển ngoại tệ, chiến tranh làm tiền không về được. Nó không che hàng hư hỏng trên đường đi; đó là việc của bảo hiểm hàng hoá.
Với người bán muốn cho khách quen trả chậm để cạnh tranh, bảo hiểm tín dụng là cách chuyển bớt rủi ro mà không phải đòi thư tín dụng. Ở Việt Nam sản phẩm này chưa phổ biến như ở nhiều nước xuất khẩu lớn, điều kiện tham gia và phí khác nhau theo đơn vị cung cấp, nên bài này tập trung vào cách nó vận hành để bạn biết hỏi gì khi tìm hiểu.
Bảo hiểm tín dụng khác bảo hiểm hàng hoá ra sao
Hai loại bảo hiểm hay bị gọi lẫn trong câu chuyện xuất khẩu. Chúng che hai rủi ro khác hẳn nhau:
| Tiêu chí | Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển | Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu |
|---|---|---|
| Rủi ro được che | Hàng mất mát, hư hỏng trên đường vận chuyển | Người mua không trả tiền vì lý do thương mại hoặc quốc gia |
| Người hưởng thường là | Bên chịu rủi ro hàng hoá theo Incoterms | Người bán, hoặc ngân hàng tài trợ cho người bán |
| Thời gian che | Từng chuyến hàng | Thường theo năm, cho cả danh mục khách hoặc từng khách |
| Căn cứ tính phí | Giá trị hàng, loại hàng, tuyến đường, điều kiện bảo hiểm | Doanh thu bán chịu, mức rủi ro người mua và quốc gia, thời hạn nợ |
| Khi nào bồi thường | Sau khi có biên bản tổn thất và hồ sơ khiếu nại | Sau khi khoản nợ được xác định không đòi được hoặc quá hạn chờ |
Một lô hàng có thể cần cả hai: bảo hiểm hàng hoá cho chặng biển và bảo hiểm tín dụng cho khoản tiền người mua nợ. Mua loại này không thay được loại kia.
Hai nhóm rủi ro được che: thương mại và quốc gia
Rủi ro thương mại. Người mua phá sản hoặc lâm vào thủ tục tương tự theo luật nước họ; người mua không trả sau một thời gian chờ nhất định kể từ ngày đến hạn dù không phá sản (thường gọi là chây ì kéo dài); trong một số hợp đồng bảo hiểm, cả việc người mua từ chối nhận hàng không có lý do chính đáng.
Rủi ro quốc gia. Người mua sẵn sàng trả nhưng tiền không chuyển ra được vì nước họ áp lệnh hạn chế ngoại hối; chiến tranh, bạo loạn, thiên tai lớn; lệnh cấm nhập khẩu ban hành sau khi đã giao hàng; huỷ giấy phép nhập khẩu. Những rủi ro này người bán nhỏ gần như không thể tự phòng.
Những gì thường không được che. Tranh chấp về chất lượng hàng: nếu người mua không trả vì cho rằng hàng có lỗi, đơn vị bảo hiểm thường chờ tranh chấp được giải quyết trước. Rủi ro tỷ giá. Khoản nợ với công ty liên quan của chính người bán. Khoản nợ phát sinh khi người bán đã biết người mua gặp khó khăn mà vẫn giao.
Rủi ro trước giao hàng. Một số hợp đồng bảo hiểm có thêm phần che rủi ro người mua huỷ đơn khi người bán đã sản xuất, có ích với hàng làm theo thiết kế riêng. Không phải đơn vị nào cũng có, cần hỏi cụ thể.
Hạn mức tín dụng cho từng người mua
Đơn vị bảo hiểm không bảo hiểm vô hạn cho mọi khách. Với mỗi người mua, họ thẩm định thông tin tài chính, lịch sử thanh toán, ngành nghề, quốc gia, rồi cấp một hạn mức: tổng số tiền tối đa mà người mua đó được nợ người bán tại một thời điểm và vẫn nằm trong phạm vi bảo hiểm. Nếu khách nợ vượt hạn mức, phần vượt không được bồi thường.
Chính bước thẩm định này là một lợi ích ít được nhắc. Doanh nghiệp nhỏ không có điều kiện tự điều tra khách ở nước ngoài, trong khi đơn vị bảo hiểm có mạng lưới thông tin tín dụng. Khi họ từ chối cấp hạn mức hoặc cấp thấp hơn nhiều so với đề nghị, đó là tín hiệu đáng nghe trước khi bán chịu cho khách đó.
Hạn mức có thể bị giảm hoặc rút trong thời gian hợp đồng nếu tình hình người mua xấu đi. Thông báo rút hạn mức thường chỉ áp dụng cho các lô giao sau thời điểm thông báo; các lô đã giao trước vẫn được che. Vì vậy người bán cần đọc kỹ email từ đơn vị bảo hiểm và điều chỉnh kế hoạch giao hàng ngay, thay vì tiếp tục giao theo thói quen.
Một điểm thực hành nữa: khi xin hạn mức, hãy đề nghị con số sát với nhu cầu thật, tính theo giá trị các lô có thể cùng lúc chưa thu tiền, gồm lô đang trên biển, lô đã tới nhưng chưa đến hạn trả và lô sắp giao. Người bán hay chỉ tính giá trị một lô, rồi tới mùa cao điểm khi ba lô chồng lên nhau thì phần vượt hạn mức không còn được che mà không ai để ý.
Phần tự chịu, thời gian chờ và nghĩa vụ của người bán
Bảo hiểm tín dụng không bồi thường toàn bộ và không bồi thường ngay. Những điểm người bán cần hiểu trước khi ký:
- Tỷ lệ bồi thường: đơn vị bảo hiểm thường chỉ trả một phần khoản nợ, phần còn lại người bán tự chịu. Thiết kế này buộc người bán vẫn phải cẩn trọng với khách.
- Thời gian chờ: với rủi ro chây ì, bồi thường chỉ phát sinh sau một số tháng kể từ ngày đến hạn mà người mua vẫn không trả. Trong thời gian đó, người bán vẫn phải chờ tiền.
- Khai báo doanh thu: nhiều hợp đồng yêu cầu khai báo định kỳ các lô đã giao cho khách được bảo hiểm, phí tính theo doanh thu khai báo. Không khai báo có thể làm mất quyền bồi thường.
- Báo quá hạn đúng thời hạn: khi khách trễ hạn quá một số ngày, người bán phải báo cho đơn vị bảo hiểm. Báo muộn là lý do từ chối bồi thường thường gặp.
- Không giao thêm khi đã biết khó khăn: tiếp tục giao hàng cho khách đang nợ quá hạn mà không có đồng ý của đơn vị bảo hiểm có thể khiến các lô mới không được che.
- Hợp tác đòi nợ: sau khi bồi thường, đơn vị bảo hiểm thường thế quyền người bán để đòi người mua, và người bán phải cung cấp chứng từ, hỗ trợ khi được yêu cầu.
Đây là các điều khoản phổ biến của loại hình bảo hiểm này; điều khoản cụ thể ở mỗi đơn vị khác nhau, nên đọc kỹ hợp đồng và hỏi rõ trước khi tham gia.
Quy trình khi người mua chậm trả
Khi có khoản nợ quá hạn với khách đã được bảo hiểm, một quy trình điển hình như sau:
- Nhắc nợ ngay khi quá hạn, bằng văn bản, lưu lại mọi trao đổi. Hỏi lý do: thiếu tiền tạm thời, tranh chấp chất lượng, hay im lặng.
- Ngừng giao lô mới hoặc chuyển lô mới sang trả trước cho tới khi khoản nợ được xử lý.
- Báo cho đơn vị bảo hiểm trong thời hạn hợp đồng quy định, kể cả khi khách hứa sẽ trả.
- Phối hợp theo hướng dẫn của đơn vị bảo hiểm: có thể họ đề nghị gia hạn, lập lịch trả nợ, hoặc giao cho đơn vị đòi nợ.
- Nếu hết thời gian chờ mà không thu được, nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm hợp đồng, hoá đơn, chứng từ giao hàng, thư nhắc nợ.
- Sau khi nhận bồi thường, tiếp tục hợp tác nếu đơn vị bảo hiểm khởi kiện hoặc đòi nợ người mua.
Điểm mấu chốt là kỷ luật: khách quen trễ một tuần, người bán nể không nhắc; trễ một tháng, ngại báo bảo hiểm. Khi mọi chuyện vỡ ra, thời hạn báo đã qua.
Những công cụ khác để không mất tiền khi bán chậm trả
Bảo hiểm tín dụng không phải cách duy nhất. Tuỳ quy mô và khách, bạn có thể so với các công cụ sau:
- Thư tín dụng có xác nhận: một ngân hàng tin cậy cam kết trả, che cả rủi ro ngân hàng phát hành và quốc gia. Mỗi lô một thư, chi phí tính theo lô.
- Bao thanh toán xuất khẩu: người bán chuyển khoản phải thu cho một đơn vị bao thanh toán để nhận trước một phần tiền; ở dạng không truy đòi, đơn vị đó chịu rủi ro người mua không trả trong phạm vi thoả thuận.
- Chiết khấu bộ chứng từ hoặc mua hối phiếu không truy đòi: dùng với thư tín dụng trả chậm hoặc hối phiếu đã được bảo lãnh, giúp nhận tiền sớm và chuyển rủi ro.
- Bảo lãnh thanh toán của ngân hàng người mua: ngân hàng của người mua cam kết trả nếu người mua không trả, thường dưới dạng thư tín dụng dự phòng.
- Tiền cọc và hạn mức nội bộ: cách rẻ nhất, tự đặt mức nợ tối đa cho từng khách dựa trên lịch sử và sức chịu đựng của mình.
Các sản phẩm tài chính cụ thể, điều kiện và chi phí do từng ngân hàng, tổ chức quy định; nên hỏi ít nhất hai nơi để so.
Doanh nghiệp nhỏ có nên mua bảo hiểm tín dụng không
Nếu bạn chỉ bán trả trước hoặc bằng thư tín dụng, bảo hiểm tín dụng gần như không cần. Nó có ý nghĩa khi bạn bắt đầu bán chịu: khách quen đòi trả sau 30, 60, 90 ngày, hoặc đối thủ cùng ngành đang cho khách nợ và bạn phải làm theo để giữ đơn. Lúc đó, khoản phải thu từ nước ngoài có thể trở thành tài sản lớn nhất trên sổ sách của một doanh nghiệp nhỏ, và một khách vỡ nợ có thể kéo theo cả doanh nghiệp.
Câu hỏi cần trả lời trước khi mua: tổng khoản bán chịu một năm bao nhiêu, tập trung vào mấy khách, nếu khách lớn nhất không trả thì bạn chịu được không. Ví dụ giả định, một xưởng có ba khách chiếm phần lớn doanh thu bán chịu, mất một khách là mất vốn lưu động của vài tháng; trường hợp đó bảo hiểm có ý nghĩa hơn nhiều so với xưởng có hàng chục khách nhỏ, mỗi khách một phần nhỏ.
Ngoài ra, một số ngân hàng sẵn lòng tài trợ vốn lưu động dựa trên khoản phải thu đã được bảo hiểm, giúp bạn có tiền sớm hơn. Khi tìm hiểu, hãy hỏi rõ về tỷ lệ bồi thường, thời gian chờ, cách tính phí, điều kiện từ chối, và đề nghị xem mẫu hợp đồng trước khi quyết định.
Câu hỏi thường gặp
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có bồi thường toàn bộ khoản nợ không?
Thường không. Đơn vị bảo hiểm trả một tỷ lệ của khoản nợ được bảo hiểm, phần còn lại người bán tự chịu. Tỷ lệ cụ thể khác nhau giữa rủi ro thương mại và rủi ro quốc gia, và giữa các đơn vị. Đọc kỹ hợp đồng để biết con số áp dụng cho mình.
Có thể chỉ bảo hiểm cho một khách hàng không?
Một số đơn vị có sản phẩm cho từng người mua hoặc từng giao dịch, nhưng phổ biến hơn là hợp đồng che toàn bộ danh mục khách bán chịu để tránh việc người bán chỉ bảo hiểm khách rủi ro. Phí và điều kiện của hai dạng khác nhau, nên hỏi cả hai.
Khách cho rằng hàng có lỗi và không trả thì bảo hiểm có bồi thường không?
Khi có tranh chấp về hàng, đơn vị bảo hiểm thường chờ tranh chấp được giải quyết, bằng thương lượng, trọng tài hoặc toà án, xác định người mua có nghĩa vụ trả. Sau đó mới xét bồi thường nếu người mua vẫn không trả. Vì vậy hồ sơ chất lượng và giao hàng đầy đủ rất quan trọng.
Phí bảo hiểm tín dụng được tính thế nào?
Phí thường tính theo tỷ lệ trên doanh thu bán chịu được bảo hiểm, phụ thuộc mức rủi ro của người mua, quốc gia của họ, thời hạn nợ và lịch sử tổn thất của người bán. Không có biểu phí chung; bạn cần gửi thông tin để đơn vị bảo hiểm báo giá.
Đã có bảo hiểm tín dụng thì có cần kiểm tra khách nữa không?
Vẫn cần. Bảo hiểm không trả toàn bộ, có thời gian chờ, và có nhiều điều kiện có thể làm mất quyền bồi thường. Hạn mức do đơn vị bảo hiểm cấp là thông tin tham khảo tốt, nhưng người bán vẫn phải theo dõi khách, nhắc nợ đúng hạn và khai báo đúng.