Vietnamgoods.comHàng Việt Ra Thế Giới
Hợp đồng và thanh toán quốc tế

Thư tín dụng L/C là gì: quy trình, bộ chứng từ và lỗi làm ngân hàng từ chối

L/C là cam kết của ngân hàng trả tiền khi bộ chứng từ khớp điều kiện. Quy trình tám bước, các loại L/C, cách soát bản nháp và lỗi chứng từ hay bị từ chối.

Top-down view of an export office desk under a warm lamp, neat stacks of blank paper, a stapler, a stamp pad, reading glasses and a cup of green tea

Thư tín dụng (Letter of Credit, viết tắt L/C) là cam kết của ngân hàng bên người mua sẽ trả tiền cho người bán, với điều kiện người bán xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện ghi trong thư, trong thời hạn quy định. Phần lớn thư tín dụng hiện nay tuân theo UCP 600, bộ quy tắc của Phòng Thương mại Quốc tế áp dụng từ năm 2007, và thư tín dụng theo UCP 600 là không huỷ ngang kể cả khi thư không ghi rõ.

Với doanh nghiệp nhỏ, thư tín dụng thay rủi ro “người mua có trả không” bằng rủi ro “chứng từ của mình có khớp không”. Rủi ro thứ hai kiểm soát được, nếu bạn hiểu quy trình, đọc kỹ thư từ bản nháp và làm chứng từ cẩn thận. Bài này đi qua từng bước đó.

Cam kết của ngân hàng, tách khỏi hợp đồng và tách khỏi hàng hoá

Hai nguyên tắc làm nên sức mạnh và cũng là cái bẫy của thư tín dụng. Thứ nhất, thư tín dụng độc lập với hợp đồng mua bán. Ngân hàng không quan tâm hợp đồng ghi gì; họ chỉ làm theo thư tín dụng. Nếu hợp đồng ghi giao hàng trong tháng sáu mà thư tín dụng ghi giao hàng chậm nhất ngày 31 tháng năm, ngân hàng sẽ theo ngày trong thư tín dụng.

Thứ hai, ngân hàng giao dịch bằng chứng từ, không bằng hàng hoá. Ngân hàng kiểm tra bề mặt chứng từ: có đủ loại không, nội dung có khớp điều kiện không, các chứng từ có mâu thuẫn với nhau không. Họ không đi kiểm hàng. Điều này giúp người bán được trả dù người mua có phàn nàn về hàng, nhưng cũng có nghĩa một lỗi đánh máy trên hoá đơn có thể làm bạn mất quyền đòi tiền theo cam kết của ngân hàng.

Hệ quả thực tế: khi nhận thư tín dụng, câu hỏi không phải “thư này có đúng như đã thoả thuận không” mà là “mình có làm ra được đúng bộ chứng từ thư này đòi, đúng hạn này không”. Điều khoản nào không làm được thì phải đòi sửa trước khi giao hàng, không phải sau.

Luồng đi của một thư tín dụng từ lúc mở tới lúc nhận tiền

Một thư tín dụng xuất khẩu điển hình đi qua các bước sau. Tên các ngân hàng có thể trùng nhau trong một số giao dịch, nhưng vai trò thì luôn tách bạch:

  1. Người bán và người mua ký hợp đồng, trong đó ghi thanh toán bằng thư tín dụng và các điều kiện chính.
  2. Người mua (người yêu cầu mở) đề nghị ngân hàng của họ (ngân hàng phát hành) mở thư tín dụng cho người bán hưởng.
  3. Ngân hàng phát hành gửi thư tín dụng qua hệ thống điện liên ngân hàng tới một ngân hàng ở Việt Nam (ngân hàng thông báo), thường là ngân hàng của người bán.
  4. Ngân hàng thông báo kiểm tra tính xác thực bề ngoài của thư và chuyển cho người bán.
  5. Người bán đọc kỹ thư, đòi sửa nếu cần, rồi sản xuất và giao hàng đúng điều kiện.
  6. Người bán lập bộ chứng từ (hối phiếu nếu có, hoá đơn, vận đơn, phiếu đóng gói, chứng nhận xuất xứ, chứng từ bảo hiểm, các giấy chứng nhận khác) và xuất trình tại ngân hàng được chỉ định trong thời hạn.
  7. Ngân hàng kiểm tra chứng từ; theo UCP 600, mỗi ngân hàng có tối đa năm ngày làm việc ngân hàng sau ngày xuất trình để quyết định chứng từ có phù hợp không.
  8. Nếu phù hợp, ngân hàng phát hành (hoặc ngân hàng xác nhận, ngân hàng được chỉ định) thanh toán ngay hoặc cam kết thanh toán vào ngày đáo hạn; người mua trả tiền cho ngân hàng phát hành và nhận chứng từ để đi lấy hàng.

Nếu thư tín dụng không ghi thời hạn xuất trình, UCP 600 đặt mức mặc định là không quá 21 ngày dương lịch sau ngày giao hàng và không muộn hơn ngày hết hạn của thư. Với hàng đi gần, cần để ý thời hạn này vì hàng có thể tới trước chứng từ.

Các loại thư tín dụng người bán hay gặp

Tên gọi thư tín dụng thường mô tả cách trả tiền hoặc thêm một đặc điểm. Bảng dưới liệt kê những loại phổ biến với người bán nhỏ:

LoạiĐặc điểmÝ nghĩa với người bán
Trả ngay (at sight)Thanh toán khi chứng từ được xác định phù hợpNhận tiền nhanh nhất trong các loại
Trả chậm (usance, deferred)Thanh toán sau một số ngày kể từ ngày giao hàng hoặc ngày xuất trìnhNgười mua được nợ; người bán có thể đề nghị ngân hàng chiết khấu để lấy tiền sớm, mất phí
Có xác nhận (confirmed)Một ngân hàng thứ hai thêm cam kết thanh toán của mìnhChe rủi ro ngân hàng phát hành hoặc rủi ro quốc gia; tốn thêm phí
Chuyển nhượng (transferable)Người hưởng đầu tiên chuyển một phần hay toàn bộ quyền cho người hưởng thứ haiDùng khi bán qua trung gian; người sản xuất nhỏ đôi khi là người hưởng thứ hai
Tuần hoàn (revolving)Tự khôi phục giá trị sau mỗi lần sử dụng trong một thời kỳHợp với khách mua đều nhiều lô theo hợp đồng dài
Thư tín dụng dự phòng (standby)Ngân hàng chỉ trả khi người mua không thực hiện nghĩa vụGiống một bảo lãnh, thường đi kèm thanh toán bằng T/T

Khi đàm phán, đừng chỉ đồng ý “L/C”. Hãy nói rõ L/C không huỷ ngang, trả ngay hay trả chậm bao nhiêu ngày, có xác nhận hay không, ngân hàng nào được xuất trình chứng từ. Mỗi chi tiết thay đổi mức an toàn và chi phí của bạn.

Soát bản nháp thư tín dụng trước khi khách mở chính thức

Thực hành tốt là đề nghị người mua gửi bản nháp trước khi mở, để bạn và ngân hàng của bạn soát. Sửa thư sau khi mở tốn phí và thời gian, và phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Những điểm cần soát:

  • Tên và địa chỉ người hưởng: đúng tên pháp lý của bạn, đúng chính tả. Sai một chữ là chứng từ của bạn sẽ lệch tên.
  • Số tiền, loại tiền, dung sai số tiền và số lượng nếu có. Nếu dùng chữ “khoảng” trước số tiền hoặc số lượng, UCP 600 hiểu là cho phép chênh lệch không quá mười phần trăm.
  • Ngày hết hạn và nơi hết hạn: nơi hết hạn nên là Việt Nam, để bạn chỉ cần xuất trình tại ngân hàng trong nước trước ngày đó.
  • Ngày giao hàng chậm nhất: có đủ thời gian sản xuất sau khi nhận thư không.
  • Cảng đi, cảng đến, giao từng phần và chuyển tải: có khớp với lịch tàu thực tế không.
  • Mô tả hàng hoá: phải khớp đúng những gì bạn sẽ ghi trên hoá đơn. Mô tả càng ngắn, càng ít chi tiết kỹ thuật, càng ít khả năng lệch.
  • Danh sách chứng từ: từng chứng từ do ai cấp, có cấp kịp không. Ví dụ giấy chứng nhận do một tổ chức ở nước người mua cấp, hoặc chữ ký của người mua trên một giấy nào đó, là điều khoản người bán không kiểm soát được.
  • Phí ngân hàng ngoài nước phát hành do ai chịu, và thời hạn xuất trình chứng từ sau ngày giao hàng.

Điều khoản đòi chữ ký hoặc xác nhận của chính người mua trên một chứng từ là điểm cần cảnh giác nhất: nó trao cho người mua chìa khoá quyết định bạn có được trả hay không, làm mất ý nghĩa cam kết ngân hàng.

Những lỗi chứng từ hay bị ngân hàng từ chối

Xuất trình trễ. Quá ngày hết hạn của thư, hoặc quá số ngày cho phép sau ngày giao hàng. Lỗi này không sửa được.

Giao hàng trễ. Ngày trên vận đơn muộn hơn ngày giao hàng chậm nhất trong thư tín dụng.

Mô tả hàng trên hoá đơn không khớp. Hoá đơn thương mại phải có mô tả hàng tương ứng với mô tả trong thư tín dụng. Các chứng từ khác có thể mô tả chung hơn, miễn không mâu thuẫn.

Số liệu mâu thuẫn giữa các chứng từ. Trọng lượng trên phiếu đóng gói khác vận đơn, số thùng trên chứng nhận xuất xứ khác hoá đơn. Ngân hàng đọc các chứng từ cạnh nhau và mâu thuẫn là bất hợp lệ.

Vận đơn không đúng loại hoặc thiếu ghi chú. Thư đòi vận đơn đã xếp hàng lên tàu, sạch, theo lệnh của ngân hàng phát hành, mà vận đơn thiếu ghi chú xếp hàng hoặc có ghi chú về tình trạng bao bì hỏng.

Chứng từ bảo hiểm sai. Ngày bảo hiểm sau ngày giao hàng, số tiền bảo hiểm thấp hơn mức thư đòi, sai loại tiền hoặc thiếu điều kiện bảo hiểm được yêu cầu.

Thiếu chữ ký, thiếu bản gốc. Thư đòi đủ bộ bản gốc hoặc một số lượng bản sao nhất định, chứng từ cần ký mà không ký.

Khi chứng từ bị từ chối: còn đường nào

Khi ngân hàng thấy chứng từ bất hợp lệ, họ phải gửi một thông báo từ chối duy nhất, liệt kê từng điểm bất hợp lệ, trong thời hạn năm ngày làm việc ngân hàng. Nếu lỗi sửa được và thời hạn xuất trình vẫn còn, bạn có thể thay chứng từ đúng. Đây là lý do nên xuất trình sớm, không đợi sát ngày hết hạn.

Nếu không sửa được, ngân hàng phát hành có thể hỏi người mua có chấp nhận bỏ qua bất hợp lệ hay không. Người mua đang cần hàng thường chấp nhận, nhưng từ lúc đó việc thanh toán đã phụ thuộc vào thiện chí của họ, không còn là cam kết chắc của ngân hàng. Một số người mua lợi dụng tình huống này để đòi giảm giá. Bạn vẫn còn hàng hoặc chứng từ sở hữu hàng trong tay qua ngân hàng, nhưng hàng đang nằm ở cảng nước ngoài, và chi phí lưu bãi tăng mỗi ngày.

Kinh nghiệm của người làm chứng từ lâu năm: dùng một bảng kiểm soát chứng từ đối chiếu từng điều khoản thư tín dụng, cho một người thứ hai soát lại, nhờ ngân hàng thông báo kiểm tra trước khi gửi đi. Bộ quy tắc thực hành ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ (ISBP) của Phòng Thương mại Quốc tế là tài liệu tham khảo tốt để hiểu ngân hàng nhìn chứng từ thế nào.

Chi phí của thư tín dụng và ai chịu khoản nào

Thư tín dụng tốn kém hơn chuyển tiền thông thường vì có nhiều ngân hàng tham gia và mỗi ngân hàng thu phí cho phần việc của mình. Phía người mua thường chịu phí mở thư tại ngân hàng phát hành và có thể phải ký quỹ hoặc dùng hạn mức tín dụng. Phía người bán thường gặp phí thông báo thư, phí kiểm tra và xử lý bộ chứng từ, phí thanh toán, và phí sửa đổi nếu mình là bên đề nghị sửa. Nếu thư có xác nhận, phí xác nhận có thể khá đáng kể và tuỳ mức rủi ro của ngân hàng phát hành cùng quốc gia của họ.

Ngoài ra còn một khoản ít người bán mới để ý: phí bất hợp lệ. Nhiều ngân hàng phát hành thu một khoản cố định trừ thẳng vào tiền thanh toán mỗi khi bộ chứng từ có lỗi, kể cả khi người mua chấp nhận bỏ qua lỗi. Làm chứng từ chuẩn ngay từ đầu vừa giữ an toàn vừa giữ được tiền.

Thư tín dụng thường có điều khoản ghi rõ phí ngoài nước phát hành do người hưởng chịu. Khi đàm phán, bạn có thể đề nghị chia lại, nhưng dù kết quả thế nào, hãy cộng các khoản phí này vào bảng tính giá lô hàng ngay từ lúc báo giá. Hỏi ngân hàng của bạn biểu phí cụ thể, vì mỗi ngân hàng một mức và thay đổi theo thời gian.

Câu hỏi thường gặp

Thư tín dụng huỷ ngang còn tồn tại không?

Theo UCP 600, thư tín dụng là không huỷ ngang kể cả khi không ghi rõ. Thư tín dụng huỷ ngang hầu như không còn được dùng trong thương mại quốc tế vì không bảo vệ người bán. Nếu một thư tín dụng có điều khoản cho phép ngân hàng hoặc người mua huỷ đơn phương, hãy coi đó là dấu hiệu cần dừng lại hỏi kỹ.

Nhận thư tín dụng qua email có tin được không?

Không nên. Thư tín dụng thật được truyền giữa các ngân hàng qua hệ thống điện liên ngân hàng và được ngân hàng thông báo xác thực. Bản scan gửi qua email chỉ để tham khảo. Luôn yêu cầu ngân hàng của bạn xác nhận đã nhận thư tín dụng thật trước khi sản xuất.

Sửa thư tín dụng sau khi mở thì ai chịu phí?

Người yêu cầu sửa thường chịu phí, trừ khi hai bên thoả thuận khác. Nếu sửa vì người mua mở sai so với hợp đồng, bạn có lý để đề nghị người mua chịu. Thư sửa đổi chỉ có hiệu lực với người bán khi người bán chấp nhận.

Có thể vay vốn sản xuất dựa trên thư tín dụng không?

Nhiều ngân hàng có sản phẩm tài trợ xuất khẩu dựa trên thư tín dụng đã nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ sau khi giao hàng. Điều kiện, hạn mức và chi phí tuỳ ngân hàng và hồ sơ của doanh nghiệp. Hỏi trực tiếp ngân hàng đang giao dịch, mang theo thư tín dụng và hợp đồng.

Hàng đi máy bay có dùng thư tín dụng được không?

Được, thư tín dụng sẽ đòi vận đơn hàng không thay cho vận đơn đường biển. Lưu ý vận đơn hàng không không phải chứng từ sở hữu hàng như vận đơn đường biển theo lệnh, nên thư tín dụng thường yêu cầu hàng gửi cho ngân hàng phát hành nhận để ngân hàng giữ quyền kiểm soát.

Người mua đề nghị thư tín dụng có điều khoản kiểm hàng của họ thì sao?

Nếu giấy kiểm hàng do một tổ chức giám định độc lập cấp theo tiêu chí rõ ràng, điều đó chấp nhận được. Nếu giấy do chính người mua hoặc người đại diện của họ ký, họ có thể không ký để từ chối trả tiền. Đề nghị đổi sang tổ chức độc lập hoặc bỏ điều khoản đó.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.